Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

8 thực phẩm giúp bạn bỏ thuốc lá

Thuốc lá đôi khi là người bạn đồng hành của nam giới. Tuy nhiên, lúc này hay lúc khác họ quyết định từ bỏ vì lý do sức khỏe hay nhiều lý do khác. Nhưng thật khó để bỏ vì không có gì để khỏa lấp trống vắng bằng điếu thuốc lá !!

Nhưng thật sự có nhiều loại thực phẩm là giải pháp tốt giúp bạn bỏ được thuốc lá, miễn sao bạn chọn đúng loại thực phẩm.

8-thuc-pham-giup-ban-bo-thuoc-la

Theo nghiên cứu của Đại học Duke thì một số loại thực phẩm đã ảnh hưởng việc sản xuất nước bọt ở trong miệng cũng như là thay đổi nhận biết mùi của thuốc lá và điều này khiến cho việc hút thuốc lá ít thi vị hơn.

Ngoài ra một số thực phẩm có tác dụng chống stress, giải độc, giảm cảm giác đói. Những điều này như là một phần trong cách cai thuốc lá. Đặc biệt là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như vitamin C, vitamin B nhất là vitamin B6, B9, B12 và omega 3.

1. Sữa và các sản phẩm của sữa

Theo nghiên cứu của Đại học Duke thì sữa giúp giảm cơn thèm thuốc lá vì nó để lại hương vị lạ trong miệng và giúp đẩy lùi cảm giác thèm thuốc. Hơn nữa sữa chứa nhiều protein cung cấp năng lượng cho cơ thể. Khi có những cơn thèm thuốc nên ăn sữa chua hoặc một miếng pho mát.

2. Trái cây và rau quả

Theo nghiên cứu của Đại học Buffalo thì trái cây và ra quả giúp bỏ thuốc lá. Nghiên cứu cho thấy rằng những người hút thuốc lá mà ăn nhiều trái cây thì khả năng bỏ thuốc gấp ba lần so với những người muốn bỏ thuốc mà không ăn nhiều trái cây rau quả. Sỡ dĩ như vậy vì trái cây, rau quả làm thay đổi hương vị của nicotin trong miệng và gây cảm giác khó chịu. Hơn nữa trái cây chứa nhiều vitamin, cung cấp cho cơ thể nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng giúp cải thiện tâm trạng và điều này khiến cho họ có nghị lực hơn, kiên quyết trong việc bỏ thuốc lá.

3. Chuối

Vấn đề thường gặp nhất ở người muốn bỏ thuốc lá đó là họ cảm thấy thiếu năng lượng đặc biệt lo lắng, căng thẳng do thiếu nicotin. Đây là lý do tại sao bạn nên ăn chuối vì chuối giàu carbohydrate, magiê và vitamin C tăng cường năng lượng và làm dịu cơ thể có dấu hiệu stress.

4. Trái cây màu đỏ

Theo Bác sĩ Alain Tuan Qui, trong số các trái cây giúp bạn bỏ thuốc lá thì hãy nên chọn trái cây màu đỏ vì chứa nhiều chất chống oxy hóa như việt quất, mâm xôi, dâu tây ….

5. Rau xanh

Theo Bác sĩ Alain Tuan Qui khuyên nên chọn những rau có màu xanh đậm như rau bina vì rất giàu vitamin B9 và magie giúp bạn thanh thản tâm hồn khi phải đối mặt với việc cai thuốc !

6. Hạt hướng dương

Các nhà nghiên cứu cho rằng hạt hướng dương có tác dụng tốt cho tâm trí giống như thuốc lá. Hạt hướng dương có tác dụng làm dịu tâm trí vì chứa nhiều vitamin B giúp nuôi dưỡng hệ thần kinh (lưu ý không nên ăn quá nhiều vì trong hạt cũng chứa nhiều chất béo).

7. Đinh hương

Đinh hương không giúp bạn bỏ thuốc lá nhưng giảm được số lượng điếu thuốc hút. Khi bạn hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày, bạn hãy dùng một ít đinh hương, điều này để lại hương vị nicotin trong miệng khoảng vài giờ, nhờ vậy bạn sẽ không cảm thấy thèm để hút điếu thứ hai.

8. Cá béo

Cá béo như cá mòi, cá thu, cá trích hay cá hồi. Theo Alain Tuấn Qui thì trong cá béo giàu omega 3 và phospho giúp bảo vệ hệ thống thần kinh trung ương, điều này cần thiết khi cai thuốc lá.

Bs Ái Thủy

(theo Docteur Bonne Bouffe)

Mẹo đơn giản giúp cải thiện thị lực

Ngày nay, những rối loạn thị lực có xu hướng gia tăng do kết quả của việc tiếp xúc quá nhiều với màn hình máy tính, điện thoại thông minh…Bên cạnh đó rất nhiều yếu tố như gen, thiếu chất dinh dưỡng thiết yếu cũng có thể là thủ phạm gây ra tình trạng này.

Dưới đây là những mẹo đơn giản giúp bạn cải thiện thị lực:

1. Tập thể dục mắt

Tập thể dục mắt là cách đơn giản và hiệu quả nhất để cải thiện thị lực. Bạn có thể thực hiện những bài tập đơn giản bất cứ khi nào và bất cứ đâu. Chúng rất có lợi trong việc kích thích lưu thông máu và giúp các cơ linh hoạt hơn.

Tap-the-duc-cho-mat-giup-cai-thien-thi-luc

2. Hạnh nhân

Hạnh nhân là nguồn đáng kể vitamin E và các chất chống oxy hóa thiết yếu. Ăn hạnh nhân hàng ngày có thể cải thiện thị lực một cách hiệu quả. Chỉ cần ngâm một vài hạt hạnh nhân trong nước qua đêm và ăn chúng vào buổi sáng.

3. Quả amla

Amla là một loại quả có nguồn gốc Ấn Độ, rất giàu vitamin C. Các tác dụng chữa bệnh của nó đặc biệt là tác dụng cải thiện thị lực nổi tiếng khắp thế giới.

4. Thư giãn mắt

Palming là kỹ thuật thư giãn mắt (úp 2 bàn tay vào mắt, lòng bàn tay trái che toàn bộ hốc mắt trái, lòng bàn tay phải che toàn bộ hốc mắt phải, 5 ngón tay trái để chéo 5 ngón tay phải – để chính giữa trán, tay trái để bên trong, tay phải để bên ngoài). Mục đích chính của kỹ thuật này là thúc đẩy sự linh hoạt của thủy tinh thể và các cơ. Kỹ thuật vô hại, không tốn kém và đơn giản này có thể thực hiện hàng ngày để có thị lực tốt hơn.

5. Thì là

Hạt thì là chứa nhiều dưỡng chất thiết yếu giúp cải thiện thị lực một cách tự nhiên. Hơn nữa, sử dụng thường xuyên loại hạt này có thể ngăn ngừa các nhiễm trùng và bảo vệ thị lực.

6. Chế độ ăn uống lành mạnh

Ăn uống lành mạnh là điều bắt buộc để cải thiện thị lực và kiểm soát tình trạng bệnh. Đặc biệt các loại thực phẩm giàu axit béo omega-3 và vitamin E có thể tăng cường đáng kể sức khỏe của mắt.

BS Cẩm Tú/Univadis

(theo Boldsky)

Dấu hiệu cảnh báo sớm ung thư

Có nhiều loại bệnh ung thư, mỗi bệnh lại có những biểu hiện khác nhau. Dấu hiệu cảnh báo sớm cũng phụ thuộc vào bộ phận ung thư. Mặt khác, dấu hiệu ban đầu của ung thư thường không rõ rệt. Nhiều trường hợp bệnh ung thư lại không có dấu hiệu gì hoặc chỉ biểu hiện ở giai đoạn cuối. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể biết một số dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh. Các dấu hiệu từ trên xuống dưới cơ thể, và các biểu hiện toàn thân đó là:

Viêm loét miệng

Bệnh nhân thấy tự nhiên bị viêm loét miệng, lâu lành. Có thể thấy bạch sản là một vùng tổn thương tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Nếu có những vệt trắng cũng như các mảng trắng dày trên lưỡi là những biểu hiện của sự thay đổi trong niêm mạc miệng, có thể dẫn đến ung thư. Nhiều người bị loét miệng do nhiễm virus, vết loét có thể gây đau nhưng sẽ khỏi sau một vài ngày. Trường hợp một vết loét miệng gây đau hoặc không đau nhưng kéo dài từ 3-4 tuần thì cần chú ý bởi có thể là do ung thư trên lưỡi hoặc xung quanh miệng.

Khàn tiếng hoặc giọng ồm

Bình thường giọng nói của bạn trong thanh. Nhưng bắt đầu từ một ngày nào đó, bạn thấy khàn tiếng hoặc giọng nói ồm bất thường kéo dài từ 2-3 tuần thì phải nghĩ đến dấu hiệu cảnh báo ung thư thanh quản. Với kỹ thuật phẫu thuật hiện nay, bác sĩ sẽ loại bỏ sự lan rộng của tế bào ung thư nên giọng nói của bạn vẫn có thể giữ được nếu bệnh được phát hiện sớm.

Khó nuốt

Một số bệnh như đột quỵ, chấn thương não... có thể gây khó nuốt. Tuy nhiên, còn có nguyên nhân khác đó là dấu hiệu sớm của ung thư vùng cổ hoặc vùng đầu, như ung thư dây thanh quản, thực quản, miệng và lưỡi. Ngoài ra, còn có triệu chứng đau bên trong miệng.

Ở một số người có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó tự xem xét thấy không đau hay viêm họng gì nên đã bỏ qua nó. Nhưng theo thời gian, dù họ thay đổi món ăn có nhiều chất lỏng hơn nhưng vẫn khó nuốt. Khi đó có thể là dấu hiệu của ung thư đường tiêu hóa, hay gặp nhất là ung thư thực quản, vòm họng hoặc dạ dày.

Ho kéo dài

Nếu bạn bị ho kéo dài và không thuyên giảm, khi đã loại trừ ho do cảm lạnh, cúm và các bệnh dị ứng, bệnh lao phải nghĩ đến dấu hiệu của ung thư. Ho kéo dài được hiểu là ho liên tục hơn 3-4 tuần. Ho như vậy có thể là triệu chứng của bệnh ung thư. Nếu ho kéo dài đồng thời có những biểu hiện kèm theo như đau ngực, ho ra máu... có thể là dấu hiệu ung thư phổi.

Ho kéo dài có thể là một triệu chứng cảnh báo sớm của ung thư.

Bị đầy hơi

Tình trạng đầy hơi thường xảy ra khi bị khó tiêu, giữ nước...Thế nhưng, nếu bạn bị đầy hơi thường xuyên, đầy hơi kèm theo đau bụng hoặc đau vùng xương chậu mà không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt (ở nữ) thì bạn nên đi khám, bởi đó có thể là dấu hiệu của ung thư buồng trứng. Loại ung thư này rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm.

Ợ nóng kéo dài liên tục

Nếu bạn ăn đồ ăn nhiều chất béo hoặc đồ cay mà bị đau hoặc khó chịu sau khi ăn là bình thường. Nhưng nếu những triệu chứng này kéo dài nhiều hơn 2-3 tuần và bạn phải dùng thuốc kháng axit thường xuyên, thì nó có thể là dấu hiệu của ung thư dạ dày hoặc ung thư thực quản, ung thư tuyến tụy...

Đi tiểu nhiều

Ở đàn ông có tuổi, tuyến tiền liệt sẽ bị phì đại, bị xơ hóa điều này có thể dẫn tới đi tiểu nhiều, nhất là vào ban đêm. Nhưng nếu bạn đi tiểu nhiều lần trong vài giờ, hoặc gặp khó khăn khi đi tiểu, có thể bạn đang mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Phân nát lỏng

Bất kỳ sự thay đổi đột ngột trong thói quen đi vệ sinh, bao gồm táo bón, phân lỏng hơn so với thông thường hay đau có cảm giác lạ kéo dài hoặc đau âm ỉ thì cần được kiểm tra. Đó có thể ám hiệu của ung thư ruột hoặc trong trường hợp hiếm hơn là ung thư buồng trứng hoặc tuyến tụy.

Ra máu sau mãn kinh

Trong giai đoạn mãn kinh, nếu bạn bị chảy máu sau thời kỳ mãn kinh thì cần phải đi khám ngay, vì đây có thể là dấu hiệu sớm của bệnh ung thư nội mạc tử cung.

Gầy sút nhanh, mệt mỏi vô cớ

Bạn thấy gầy sút nhanh, có thể giảm hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong khoảng 3 tháng thì đó có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư. Dấu hiệu giảm cân xảy ra ở hầu hết các bệnh ung thư như ung thư tuyến tụy, dạ dày, thực quản, ung thư đại tràng hoặc ung thư phổi. Bên cạnh đó, dấu hiệu mệt mỏi cũng là cảnh báo của bệnh ung thư mà chúng ta dễ bỏ qua. Sự mệt mỏi do ung thư rất vô cớ và thường khác với sự mệt mỏi do làm việc vất vả. Mệt mỏi do ung thư rất bải hoải và người bệnh không cảm thấy đỡ dù đã nghỉ ngơi. Dấu hiệu này thường thấy ở ung thư máu, ung thư ruột kết, ung thư dạ dày...

Hay bị cảm cúm

Nếu bạn hay bị sốt không rõ nguyên nhân, có thể do ung thư. Các nhà khoa học lý giải: đó là do ung thư có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, làm cho cơ thể không có sức đề kháng với các viêm nhiễm gây cúm, sốt. Đa số các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Sốt thường xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và di căn đến phần khác của cơ thể. Sốt cũng có thể do bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu, ung thư hạch.

Thay đổi ở da

Một ngày nào đo bạn thấy nốt ruồi quen thuộc của bạn to lên đáng kể thì đó là dấu hiệu đáng ngờ của ung thư nốt ruồi. Các sự thay đổi về cấu trúc của da, mụn cóc, nốt ruồi hoặc đốm sắc tố đều có thể là những dấu hiệu của ung thư da. Các khối u ác tính là một dạng phổ biến của ung thư da và có biểu hiện giống như những đốm trên da, thường có màu sắc, kích thước, hình dáng không bình thường.

Đau

Ở những người cao tuổi, thường bị mệt mỏi và đau mình mẩy. Nhưng cảm giác đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Nếu bạn bị đau đầu không làm cách nào dứt được dù đã uống thuốc giảm đau có thể là dấu hiệu của khối u ác tính ở não. Nếu đau ở lưng là dấu hiệu của ung thư ruột kết hoặc ung thư buồng trứng. Các bệnh ung thư xương, ung thư dương vật cũng gây đau nhiều.

Chảy máu bất thường

Trường hợp bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, thì bạn nên đi khám bệnh ngay. Bởi ho ra máu là dấu hiệu của ung thư phổi (sau khi đã loại trừ bệnh lao). Thấy máu trong phân là dấu hiệu của ung thư ruột kết. Đi tiểu ra máu, là cảnh báo sớm của ung thư thận hoặc ung thư bàng quang. Chảy máu núm vú báo động ung thư vú.

Viêm sưng hạch

Tình cờ bạn phát hiện được một khối u hoặc sưng ở các hạch trong nách hay ở cổ hoặc ở bất cứ nơi nào khác thì cần phải lưu ý vì đó có thể là dấu hiệu của ung thư máu và bạch huyết.

Sờ thấy khối u

Có một số ung thư cảm nhận được qua da. Đó là ung thư vú, ung thư dương vật, ung thư hạch và ung thư gan, tụy. Tuy có vài dạng khác của ung thư vú không xuất hiện u, cục nhưng da cứ mẩn đỏ, dầy lên.

Vết loét không lành

Có những dấu hiệu khác của ung thư da đó là những khối u nhỏ trên da sẽ lớn dần lên, trên đó là những vết loét không thể lành từ 2-4 tuần. Những khối u hoặc các vết loét này thường không đau nhưng có thể gây chảy máu hoặc ngứa.

Đổ mồ hôi ban đêm

Nếu bạn bị đổ nhiều mồ hôi vào ban đêm có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư tế bào lympho, một khối u đang phát triển trong tế bào bạch huyết. Những người mắc ung thư thế bào lympho có sự trao đổi chất trong cơ thể lớn do các tế bào lympho sử dụng rất nhiều năng lượng. Vì vậy, họ thường đổ rất nhiều mồ hôi vào ban đêm, kèm theo là một khối u có đường kính từ 2cm trở lên ở cổ, nách hoặc háng thì cần nghĩ đến ung thư.

ThS.Mai Đức Trung

Cách đúng xử trí sốt virut ở trẻ em

Sốt virut là bệnh gặp chủ yếu trong mùa hè ở trẻ, bệnh rất dễ lây qua đường hô hấp với triệu chứng điển hình là trẻ đột ngột sốt cao 39 - 40 độ C, kèm theo các triệu chứng khác như ho, chảy mũi, rối loạn tiêu hóa, nổi ban...

Triệu chứng

Biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt do virut là trẻ thường sốt cao từ 38-39oC, thậm chí 40-41oC. Trong cơn sốt trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường. Khi hạ sốt trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường; đau mình mẩy: ở trẻ lớn thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc; đau đầu: một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, Nếu nguyên nhân gây sốt do virut đường tiêu hóa thì trẻ bị rối loạn tiêu hoá, đi ngoài, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhày. Ban đỏ thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt.

Diễn biến của sốt virut

Cơ thể trẻ em do chưa có sức đề kháng cao nên rất dễ bị nhiễm bệnh, trong những ngày hè, nhiều trẻ phải nhập viện do sốt virut là hiện tượng rất hay gặp tại khoa nhi các bệnh viện. Trong điều kiện bình thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh.

Một số loại virut thường gây sốt như: Myxo virut, Coxackie, Entero virut, sởi, ... Virut có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm virut qua đường hô hấp, tiêu hóa... có thể gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virut là sốt cao. Trong thuật ngữ y học thường gọi là sốt virut. Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ, sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.

Xử trí và phòng ngừa sốt do virut ở trẻ

Đối với các bệnh do virut gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị chứng, đối với sốt virut ở trẻ em cũng vậy. Do đó các biện pháp thường áp dụng là:

- Cặp nhiệt độ: Đặt nhiệt kế ở nách hoặc hậu môn. Nhiệt kế phải được giữ trong nách ít nhất 3 phút, cánh tay của trẻ áp sát vào ngực. Nhiệt độ của trẻ sẽ là số ghi trên nhiệt kế cộng thêm 0,3 - 0,4 độ. Thí dụ nhiệt kế ghi 38oC thì thân nhiệt thực sự của trẻ là 38,4oC.

Hạ sốt: Thường dùng paracetamol liều 10mg/kg, 6 giờ/1 lần.

Chườm mát cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Cởi quần áo, bỏ bớt chăn cho trẻ khi đang sốt cao.

Lau bằng khăn ướt nước ấm: Dùng khăn mềm, sạch, nhúng nước ấm (1 cốc nước sôi + 3-3,5 cốc nước nguội) lau lên khắp mình trẻ; cho tới khi thân nhiệt xuống 37oC. Tuyệt đối không được chườm nước lạnh vì sẽ gây sốt cao thêm do cơ chế co mạch ngoại vi.

Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5oC thì dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.

Bù nước và điện giải: Nếu trẻ còn bú tiếp tục cho bú nhiều hơn bình thường, và cho uống bù nước ORS (Oresol) theo chỉ dẫn. Trường hợp trẻ không uống được thì dùng bông sạch chấm nước trên vào môi, miệng bé liên tục để niêm mạc môi, miệng hấp thu nước, tránh thiếu nước và chất điện giải.

Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.

Dinh dưỡng: Cần chú ý tới chế độ dinh dưỡng, nên cho trẻ ăn loãng như cháo, súp, uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả như cam, chanh...

Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.

Chú ý: Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: khi trẻ sốt cao trên 38,5oC, đặc biệt là trên 39oC mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng. Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục và tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.

Sốt virut là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và trường học. Do đó, người bị sốt virut nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Khi trẻ bị sốt virut cần cho trẻ nghỉ học đến khi khỏi hẳn để tránh lây cho trẻ khác. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C để nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Ths Lê Hưng

Lạm dụng điện thoại thông minh có thể gây tổn thương mắt của trẻ

Một nhóm bác sĩ tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Chonnam ở Seoul, Hàn Quốc đã tìm ra mối liên quan giữa sử dụng điện thoại thông minh quá nhiều và bệnh mắt ở trẻ dưới 5 tuổi. Họ phát hiện thấy sử dụng điện thoại thông minh nhiều khiến trẻ có thể bị lác mắt. Lác mắt là tình trạng khi nhìn vào một vật nào đó hai mắt không thể đồng thời thẳng hàng. Theo các tác giả, những trẻ này cầm điện thoại ở khoảng cách xa với mặt 20-30cm. 9 trong số 12 trẻ được điều trị thành công khi tránh dùng điện thoại thông minh khoảng 2 tháng.

Các tác giả cho rằng người sử dụng không nên nhìn vào màn hình điện thoại quá 30 phút. Trẻ em có dấu hiệu lác mắt cần được đi khám ngay lập tức.

Ánh sáng xanh từ điện thoại có thể gây hại vì nó là sóng năng lượng cao nhất của ánh sáng. Loại năng lượng này có khả năng thâm nhập vào sau mắt, qua bộ lọc tự nhiên của mắt, dẫn tới đục thủy tinh thể và các bệnh về mắt khác như tổn thương võng mạc.

BS Tuyết Mai

(Theo THS/ Univadis)

Một số bệnh thường gặp và cách phòng ngừa

Đặc điểm bệnh lý

Tình trạng già nua không phải là bệnh lý nhưng đây là cơ sở tạo điều kiện cho những loại bệnh tật phát sinh và phát triển. Tuổi cao thường bị giảm khả năng và hiệu lực các quá trình tự điều chỉnh thích nghi của cơ thể, giảm khả năng hấp thu và dự trữ các chất dinh dưỡng; đồng thời thường gặp phải những rối loạn chuyển hóa, giảm phản ứng của cơ thể, nhất là giảm sức tự vệ đối với các yếu tố gây bệnh như: nhiễm trùng, nhiễm độc, rối loạn stress... NCT là tính chất đa bệnh lý, nghĩa là NCT thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc. Trong đó có bệnh dễ phát hiện, dễ chẩn đoán nhưng cũng có nhiều bệnh khác xảy ra kín đáo, âm thầm, có khi nguy hiểm phải cần phải quan tâm để tránh bị bỏ sót. Vì vậy khi khám bệnh cần cẩn thận, tỉ mỉ, thăm khám toàn diện để có chẩn đoán hoàn chỉnh, xác định bệnh chính và bệnh phụ, bệnh cần xử trí trước và bệnh cần giải quyết sau.

Lời khuyên của thầy thuốcVới sự thay đổi của cơ thể theo thời gian và tuổi tác, NCT thường mắc phải nhiều loại bệnh khác nhau. Vì vậy, việc chữa bệnh và phòng bệnh cho NCT phải căn cứ trên những đặc điểm của cơ thể người đã bị lão hóa và bệnh lý của từng đối tượng cụ thể theo ba lĩnh vực có liên quan đến sinh học, y học và xã hội để xử trí một cách phù hợp; không thực hiện giống như cơ thể của những người còn trẻ. Đây là vấn đề cần được lưu ý nhằm bảo đảm sự an toàn cho NCT.

Các triệu chứng bệnh lý ở NCT ít khi điển hình, do đó dễ làm sai lạc chẩn đoán và đánh giá tiên lượng. Bệnh ở NCT thường bắt đầu không ồ ạt, các dấu hiệu không rõ rệt cả về chủ quan lẫn khách quan; vì vậy việc phát hiện bệnh có thể chậm. Khi bệnh toàn phát, các triệu chứng cũng không rõ rệt như ở người trẻ, do đó việc chẩn đoán đôi khi khó, nhất là đối với người yếu sức, nhiều phương pháp thăm dò không thực hiện được. Mặc dù bệnh xuất hiện kín đáo, triệu chứng không rầm rộ và tiến triển chậm nhưng bệnh lý ở NCT sớm ảnh hưởng đến toàn thân, dẫn đến suy kiệt nhanh chóng và bệnh dễ chuyển thành nặng nếu không điều trị kịp thời. Việc tiên lượng bệnh cũng không bao giờ được chủ quan. Đồng thời khả năng hồi phục bệnh ở NCT thường kém. Do đặc điểm cơ thể NCT đã suy yếu, đồng thời có thể mắc nhiều bệnh cùng một lúc, trong đó có nhiều bệnh mạn tính nên sau khi đã qua giai đoạn cấp tính thường phục hồi rất chậm. Vì vậy, việc điều trị phải mất nhiều thời gian và sau đó cần có một giai đoạn an dưỡng hoặc điều dưỡng. Cùng với việc điều trị bệnh, nên chú ý đến việc phục hồi chức năng thích ứng, kiên trì và phù hợp với tâm lý, thể lực ở NCT.

Những bệnh thường gặp

Bệnh thường gặp ở NCT bao gồm nhiều loại khác nhau như: tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thận và tiết niệu, nội tiết chuyển hóa, xương và khớp, máu và cơ quan tạo máu, tự miễn, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, ngoài da, tâm thần, thần kinh.

Bệnh tim mạch: thường gặp là cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch. Ngoài ra còn gặp các bệnh tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim và dẫn truyền, suy tim, tắc nghẽn động mạch.

Bệnh hô hấp: thường gặp là viêm phế quản mạn tính, giãn phế nang, ung thư phổi.

Bệnh tiêu hóa: thường gặp là ung thư gan, xơ gan, viêm túi mật, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm đại tràng mạn tính, táo bón.

Bệnh thận và tiết niệu: thường gặp là viêm thận mạn tính, viêm bể thận mạn tính, sỏi tiết niệu, u tuyến xơ và ung thư tuyến tiền liệt, rối loạn tiểu tiện nhất là tiểu tiện không tự chủ.

Bệnh nội tiết chuyển hóa: thường gặp là đái tháo đường hay có biến chứng thận, suy tuyến giáp trạng, suy sinh dục, tăng chất cholesterol máu, tăng axít uric máu.

Bệnh xương và khớp: thường gặp là loãng xương, thoái hóa khớp, gút, gãy xương các loại do loãng xương, hội chứng vai - tay, bệnh Paget.

Bệnh máu và cơ quan tạo máu: thường gặp là thiếu máu do thiếu sắt, hội chứng tăng đông máu; thiếu máu do thiếu acxít folic hoặc vitamin B12; bệnh bạch cầu mạn tính và cấp tính, đau tủy xương, macroglobulin máu, bệnh ung thư hạch.

Bệnh tự miễn: thường gặp là những loại có tự kháng thể kháng globulin, tự kháng thể kháng nhân; tự kháng thể đặc hiệu kháng hồng cầu, kháng giáp trạng, kháng niêm mạc dạ dày. Ngoài ra ở NCT cũng thường gặp bệnh tự miễn dịch tiềm tàng.

Bệnh mắt: thường gặp là đục thủy tinh thể, thoái hóa võng mạc và mạch mạc, xơ cứng tiến triển các mạch võng mạc.

Bệnh tai mũi họng: thường gặp là giảm thích lực kiểu giác quan, thần kinh, chuyển hóa hoặc cơ học; rối loạn tiền đình; ung thư xoang hàm, xoang sàng, tai, amiđan, vòm mũi - họng.

Bệnh răng hàm mặt: thường gặp là u lành tính và u ác tính khoang miệng, viêm khớp thái dương - hàm.

Bệnh ngoài da: thường gặp là ngứa ở NCT, dày sừng ở NCT, u tuyến mồ hôi, rụng tóc, tổn thương tiền ung thư và ung thư hắc tố, ung thư biểu mô, teo niêm mạc sinh dục nhất là ở nữ giới.

Bệnh tâm thần: thường gặp hai loại chính là loạn tâm thần trước tuổi cao và loạn tâm thần khi cao tuổi. Trong loạn tâm thần trước tuổi cao, những biểu hiện bệnh lý hay được ghi nhận là trạng thái trầm cảm, hoang tưởng, loạn tâm thần ác tính, trạng thái tăng trương lực muộn. Trong loạn thần khi cao tuổi, những biểu hiện bệnh lý hay được ghi nhận là bệnh Alzheimer, thể nhớ bịa, thể mê sảng.

Bệnh thần kinh: thường gặp là rối loạn tuần hoàn não gồm các kiểu và mức độ, u trong sọ não, hội chứng ngoài bó tháp nhất là bệnh Parkinson, hội chứng rối loạn não Steele, run tự phát, rối loạn mạch máu tiểu não, u tiểu não, bệnh tủy sống có nguyên nhân mạch máu, viêm đa dây thần kinh, chèn ép dây thần kinh.

Người cao tuổi không nên tự ý dùng thuốc

Để phòng bệnh ở NCT, cần có biện pháp riêng cho từng loại bệnh. Lưu ý việc thận trọng trong lúc đi lại vì khi bị ngã rất dễ gây gãy xương do xương quá xốp. Đặc biệt, phải cẩn thận khi dùng thuốc điều trị nhất là về liều lượng và lúc dùng nhiều loại thuốc cùng một lúc, thuốc có độc tính cao. NCT không nên tự ý dùng thuốc, nên hỏi ý kiến cụ thể của bác sĩ, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa lão khoa. Việc đi máy bay không có chống chỉ định đối với NCT khỏe mạnh nhưng nếu có bệnh thì phải tùy theo từng loại bệnh, mức độ và giai đoạn bệnh lý để quyết định. Việc tổ chức chăm sóc NCT cần có sự quan tâm của toàn xã hội. Hiện nay ở nhiều quốc gia đã có những tổ chức xã hội hoặc từ thiện chăm sóc NCT cô đơn không nơi nương tựa. Nhà nước đã tổ chức những già dưỡng lão, có phòng khám để khám bệnh định kỳ, tạo mọi điều kiện để NCT có thể tham gia đóng góp cho xã hội; đồng thời nên thành lập các hội, câu lạc bộ NCT, người nghỉ hưu để họ có điều kiện sinh hoạt khi tuổi đã cao. Về các loại thuốc nâng cao tuổi thọ, hiện nay do chưa rõ nguyên nhân cơ chế của tuổi cao, đồng thời tuổi thọ cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, môi trường tự nhiên và xã hội, bệnh tật... nên chưa có cơ sở để đề cập đến các loại thuốc nâng cao tuổi thọ. Thực tế do tuổi cao kèm theo sức yếu nên các nhà khoa học cho rằng có thể có những hoại thuốc bảo thọ mà chủ yếu là các hoạt chất chống oxy hóa, các yếu tố vi lượng, các vitamin, sâm và nhung.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Chăm sóc răng miệng đúng cách như thế nào?

Chào bác sỹ, Em luôn muốn có một hàm răng tốt, không bị sâu răng. Ngoài đánh răng thường xuyên ra, em không biết có phải áp dụng những phương pháp chăm sóc răng miệng nào khác nữa không? Nhờ bác sỹ tư vấn giùm em. Em xin chân thành cám ơn!

Ngọc Hà – TP HCM

Chào em, Chăm sóc SKRM cũng như việc điều trị bệnh răng miệng phải nhằm bảo đảm ba yêu cầu: chức năng, thẩm mỹ, dự phòng. Ba yêu cầu này phải hài hòa và bổ sung cho nhau, nhưng yêu cầu chức năng là quan trọng nhất. Không nên vì muốn chỉnh hình vị trí một răng đẹp, trám thẩm mỹ một răng đẹp mà quên đi khớp cắn hai hàm, tình trạng mô nha chu,... mà làm mất chức năng của răng.

Miệng là cửa ngõ đầu tiên của hệ tiêu hóa, là nơi vi trùng xâm nhập nhanh nhất vào cơ thể, nơi đó có nhiều yếu tố tạo môi trường cho vi khuẩn trú ẩn và phát triển làm phát sinh rất nhiều bệnh tật - không chỉ là những bệnh về răng miệng: viêm nướu, viêm nha chu, nhiễm trùng răng, nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa, tim mạch,… Em nên bắt đầu việc chăm sóc SKRM bằng việc kiểm soát vệ sinh răng miệng thật tốt: đánh răng tối thiểu ngày hai lần vào buổi sáng và trước khi đi ngủ. Hoặc tốt nhất là chải răng buổi sáng lúc thức dậy, sau các bữa ăn và trước khi đi ngủ. Đánh răng, chải răng có thể làm mất đi những mảng thức ăn bám quanh răng và các loại vi khuẩn gây sâu răng, làm cho hơi thở không có mùi. Để có hàm răng khỏe đẹp, cần chải răng thường xuyên, đúng cách, đều đặn hằng ngày. Tuy nhiên, có khá nhiều mảng bám thức ăn `cứng đầu` không chịu khuất phục bởi bàn chải đánh răng. Lâu ngày, những mảng bám này bị canxi hóa tạo nên vôi răng bám dính trên bề mặt răng hoặc giữa răng với nướu. Vôi răng đe dọa nghiêm trọng tới SKRM vì có thể là nguyên nhân gây ra viêm nướu, viêm nha chu.

Vì vậy, ngoài việc đánh răng đều đặn hàng ngày, em phải hình thành thói quen đi lấy vôi răng tại phòng nha mỗi 6 tháng một lần. Trong quá trình lấy vôi răng, nha sĩ sẽ kiểm soát loại bỏ hết các ổ vi khuẩn, đồng thời trám phòng ngừa lại tất cả răng sâu (nếu có).

Khi em bị mất một hay nhiều răng, em phải được trồng lại những đơn vị răng bị mất. Điều này là chỉ định bắt buộc và đặc biệt quan trọng vì nếu không được trồng lại sớm, tất cả các răng còn lại trên cung hàm sẽ bị xáo trộn, xô lệch, dẫn đến các điểm tiếp xúc giữa các răng không tốt sẽ dẫn đến tình trạng bị nhồi nhét thức ăn vào kẽ răng, gây ra viêm nha chu và những bệnh lý khác về răng.

Chúc em luôn có một chất lượng sức khỏe răng miệng thật tốt!

Thân chào em,

Ths. Bs Nguyễn Bá Lân

Ths. Bs Nguyễn Bá Lân

Phòng bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi

Chăm sóc trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ Ở lứa tuổi này, trẻ từ khi được bú mẹ đến lúc cai sữa mẹ và ăn bữa ăn của người lớn ở các nước thường có tỉ ...